Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Nhà văn Phan Việt tên thật là Nguyễn Ngọc Hường. Chị là tác giả của các tác phẩm - Phù phiếm truyện (2005); Tiếng người (2008); Nước Mỹ, nước Mỹ (2009); Một mình ở châu Âu (2013) và Xuyên Mỹ (2014).Chị cũng là đồng sáng lập tủ sách Cánh Cửa Mở Rộng. Phan Việt tốt nghiệp Đại học Ngoại thương năm 2000, sau đó sang Mỹ học Thạc sĩ Báo chí và Truyền thông, học tiếp chương trình Thạc sĩ thứ hai và lấy bằng Tiến sĩ công tác xã hội tại ĐH Chicago, Mỹ, hiện là Phó giáo sư, giảng dạy tại đại học South Carolina (Mỹ). Ảnh do nhân vật cung cấp Trở về Việt Nam vào mùa hè này, ngoài các công việc liên quan đến sách, Phan Việt đưa một đoàn sinh viên và giáo sư Mỹ sang học về công tác xã hội tại Việt Nam, kết nối để Đại học South Carolina ký kết các văn bản hợp tác với ba trường Đại học lớn tại Việt Nam; tổ chức một hội thảo quốc tế về công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần; và vẫn đều đặn tới các bệnh viện tâm thần để thực hiện một nghiên cứu. Cuộc trò chuyện giữa PV Tuần Việt Nam và TS Phan Việt diễn ra tại một ngôi chùa ở ngoại thành Hà Nội, nơi chị đang sống để làm nghiên cứu và cũng tranh thủ dạy tiếng Anh cho chư tăng và người đến chùa. Hãy cho họ thấy bạn khác biệt Chị có thể chia sẻ gì về quyết định đi Mỹ du học của chị hơn chục năm về trước? Đi học ở nước ngoài khi đó có phải là một trào lưu không? Tôi đi Mỹ ngay sau khi tốt nghiệp trường Ngoại thương. Lúc đó chuyện đi du học ở Mỹ  cũng hiếm mà người Việt chủ yếu đi học ở Úc, Châu Âu, hoặc các nước Châu Á. Thường thì học bổng hay dành cho các bạn đoạt giải Olympic, giải quốc gia, quốc tế, hoặc là đã làm việc một thời gian để thành lãnh đạo trẻ. Tôi không thuộc những diện này, cũng không có gì nổi bật về thành tích, nhà lại cũng không có điều kiện, nhưng tôi biết là tôi rất muốn đi du học. Đọc các tài liệu du học thì tôi thấy các trường ở Mỹ tuyển sinh viên khác các nước khác. Có vẻ họ nhìn giáo dục như một vụ đầu tư kinh doanh cho nên họ sẵn sàng mạo hiểm nhiều hơn các nước khác. Bỏ ra mấy trăm ngàn USD cho một sinh viên là một sự đầu tư mạo hiểm mà. Nếu bạn chứng minh được với họ là bạn có đam mê và có khả năng trở thành một người tạo ra sản phẩm hoặc  giá trị riêng biệt cho xã hội thì họ sẽ chấp nhận đầu tư vào bạn. Mất khoảng hơn một năm làm hồ sơ thì tôi được nhận đi học thạc sỹ về truyền thông. Ấn tượng khi so sánh hai hệ thống giáo dục Việt – Mỹ của chị thế nào? Ấn tượng đầu tiên là học ở Mỹ không có cảm giác khổ. Ở Việt Nam thì việc học là trung tâm cuộc sống của một đứa trẻ và gia đình đứa trẻ, từ lớp một đến hết đại học, rất cực nhọc.Tôi vẫn còn nhớ cảm giác của ba năm cấp ba; nói chung là triền miên học, triền miên luyện thi, bắt đầu từ lớp 10. Sang Mỹ học 10 năm, tôi chưa bao giờ gặp lại cái gì gần gần như vậy.Vấn đề không phải là ở chuyện tần số lớp học đâu. Cái chính là ở Việt Nam, tôi học vì một sự sợ hãi vô mình là mình phải vào trường tốt, cụ thể là trường Ngoại thương. Ở Mỹ thì tôi học vì mình chọn; mình có thể thành thực nói là “tôi thích học ngành này lắm”. Thực sự là tôi học 2 bằng thạc sỹ, một bằng tiến sỹ ở Mỹ nhưng tôi không thấy khổ và có cảm giác sợ như lúc học ở Việt Nam. Còn khác thế nào: như tôi nói, đã học 10 năm, rồi đi dạy 4 năm ở Mỹ thì tôi thấy người Mỹ coi giáo dục như là một ngành công nghiệp sản sinh tri thức và nhân lực nên cách học và dạy ở Mỹ thực dụng lắm. Họ hướng thẳng vào những gì có thể khiến sinh viên ra trường là trở thành người lao động giỏi, thành người tạo ra các giá trị gia tăng liên tục. Họ đo kết quả mỗi môn học cũng như toàn bộ chương trình rất rõ ràng, dựa trên thay đổi về kiến thức, hành vi, và giá trị sống của sinh viên. Ở cốt lõi, người Mỹ không quan trọng việc dạy học sinh nghĩ thế này là đúng, thế kia là sai; cũng không dạy sinh viên nên nghĩ về cái này, cái kia, mà mà họ dạy học sinh phương pháp nghĩ như thế nào. Còn nội dung cụ thể của suy nghĩ thì họ cho sinh viên được một sự tự do khá lớn. Lúc tôi là sinh viên và bây giờ là giáo viên, lớp học bên đó thường rất ít hành vi giảng, chủ yếu là thảo luận, tranh luận, thử nghiệm, trình diễn, xem, nghe, quan sát, tương tác thực sự… Cũng vì có quan điểm coi giáo dục là một ngành công nghiệp nên giáo viên tuy được xã hội Mỹ coi trọng một cách tương đối nhưng trước hết là người làm công ăn lương được xã hội trả tiền để làm việc, thế thôi. Họ không nghiễm nhiên được hưởng bất cứ sự tôn kính nào cả; họ cũng phải bị đánh giá chất lượng công việc, được trả lương dựa theo cơ chế thị trường. Quan hệ giữa sinh viên và giáo viên rất bình đẳng. Các trường thì có sự tự chủ rất lớn, gần như hoàn toàn, về chương trình dạy cũng như về tài chính; cho nên mọi thứ sẽ lấy chất lượng đo lường được làm tiêu chí. Ảnh do nhân vật cung cấp Học Tây rồi về... làm gì? Có phải đó là nguyên nhân khiến nhiều gia đình Việt Nam tìm mọi cách đưa con đi “tị nạn giáo dục”, theo cách nói phổ biến hiện nay, cho dù đắt đỏ, dù phải hy sinh nhiều thứ? Cũng không hẳn đâu. Nhiều người cho con đi học không phải vì nền giáo dục ở Tây mà là vì cái sẽ xảy ra tại Việt Nam sau khi một đứa trẻ có bằng Tây trở về, ví dụ “có bằng tây về Việt Nam sẽ tốt”. Cái họ nghĩ đến khi gửi con đi Tây là Việt Nam chứ không phải Tây. Tính toán như vậy cũng không có gì sai, nhưng tôi thấy là họ thường tính toán dựa trên những nhận định về Việt Nam hiện tại chứ không phải dựa trên nhận định về một Việt Nam có-thể-là hay một Việt Nam với những giá trị mới mà con cái họ chính là người góp phần kiến tạo, thậm chí là người khai phá, mở đường. Không nhiều người, kể cả phụ huynh lẫn sinh viên, nghĩ đến những câu hỏi mấu chốt này: Tôi muốn gì, tôi muốn trở thành ai, tôi muốn di sản của mình là gì, để làm được điều đó thì con đường tối ưu cho tôi là gì? Tôi có cần phải đi Tây mới làm được điều đó hay có con đường khác tốt hơn? Nếu tôi đi Tây thì trường nào, học với ai, sẽ cho tôi kết quả tối ưu? Tôi định sẽ đi học như một sự phản ứng với những ấu trĩ tôi thấy ở Việt Nam và tôi học để có thể tận dụng sự ấu trĩ đó hay là tôi muốn học vì tôi yêu tri thức, tôi muốn biết sự thật về thế giới, vì tôi muốn thay đổi cái tôi đang thấy. Tôi lấy ví dụ như gần đây, báo chí Việt Nam thường phát sốt với những tin tức kiểu như bạn A được vào Harvard, bạn B được vào Stanford. Các bài viết thường hay tập trung kể xem A hay B và gia đình bạn đã vất vả và quyết tâm thế nào để vào được Harvard nhưng mọi câu chuyện luôn dừng lại ở việc vào được Harvard như cái đích tối cao. Tôi thì nghĩ vấn đề không phải là vào được Harvard; vấn đề nằm ở chỗ bạn vào Harvard để làm gì, bạn có biết vì sao bạn muốn vào đó, chỗ đó có phải chỗ tối ưu để bạn làm được điều bạn muốn làm, trở thành người bạn muốn trở thành hay không?

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Tự tin đi khắp nơi   
Chuyện kể hay, học mê say
Dễ dàng nghe, không ngại nói   

Giỏi tiếng Anh, lương tăng nhanh
Mẫu câu giao tiếp dễ nhớ, dễ xài   

Học từ vựng mau nhớ, lâu quên
Gặp từ lạ biết nghĩa ngay   

Học từ vựng bằng hình ảnh
Học từ vựng theo chủ đề   

Dùng từ đúng hoàn cảnh
Học một từ, biết nhiều từ   

Biết nhiều cách để nói
Tuyệt chiêu nhớ ngữ pháp   

Biết rõ mình đang ở đâu
Vừa học vừa chơi

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Có nhiều bạn học rất giỏi tiếng Anh, nhiều bạn khác cũng muốn biết làm cách nào mà các bạn học giỏi tiếng Anh như thế. Những kinh nghiệm quý báu trong các phương pháp học tiếng anh của những người thành đạt, với vốn kinh nghiệm tích lũy sau bao năm tháng hẳn sẽ là cần thiết và là tài liệu quý giá cho các bạn, những người mới chập chững theo học anh văn cơ bản, đang học mà chưa rõ mục đích và hướng đi…. Nhận được sự cần thiết đó, Mình xin tổng hợp tiếp những kinh nghiệm góp nhặt được trên internet nhằm cung cấp đủ lượng kiến thức cần thiết giúp các bạn thành công trên con đường của mình.

 1. Vocabulary -Từ Vựng
Từ vựng đặc biệt quan trọng. Nếu bạn muốn nói, viết, đọc, nghe mà không có vốn từ thì coi như bạn không có vốn kiến thức tiếng anh. Vậy bí quyết học từ vựng là gì? - Khi học bài trên lớp hoặc các trung tâm ngoại ngữ học đến bài nào bạn cố gắng học hết từ vựng của bài đó. Không để từ vựng bài này dồn bài sau vì khi đó từ vựng rất nhiều làm bạn nhanh chán nản. Cố gắng học đi học lại nhiều lần để không bị quên. - Hãy tạo ra nhiều phương pháp đừng chỉ ngồi nhìn và đọc. Bạn hãy cầm bút và giấy ghi các từ bạn muốn học và nghĩa của nó bên cạnh. Bạn đọc qua vài lần để cho nhớ qua qua. Sau đó bạn che phần nghĩa của từ cố gắng nhớ lại xem nghĩa của từ đó là gì và viết vào bên cạnh, trong trường hợp không thể nhớ thì bạn mở nghĩa ra xem lại. Rồi tiếp theo bạn che từ và cố nhớ từ đó là gì dựa vào nghĩa của nó. Bạn cứ làm như vậy 3-5 lần đảm bảo bạn sẽ học thuộc từ vựng. - Không nên dồn dập học quá nhiều từ/ngày bạn sẽ dễ quên. Tốt nhất là 5-10 từ - Học bằng từ vựng bằng cách xem Tivi và phim song ngữ: Bạn có thể xem các phim và chương trình truyền hình song ngữ hoặc có phụ đề. Vừa xem bạn vừa giải trí mà lại học được thêm nhiều từ vựng mới dự vào tình huống. - Học qua mp3: Hiện nay với công nghệ hiện đại bạn có thể tải và nghe các bài học từ vựng hoàn toàn miễn phí. Bạn copy vào máy nghe nhạc và học mọi lúc mọi nơi. - Dùng hình ảnh: Thường chúng ta nhớ hình ảnh lâu hơn chữ do đó để tăng hiệu quả bạn có thể mua từ điển bằng hình ảnh về tham khảo. - Mua từ điển tốt: Để học tiếng Anh và từ vựng thì không thể thiếu từ điển. Một quyển từ điển tốt là phải bao gồm đầy đủ nghĩa, cách dùng, ví dụ, các trường hợp dùng đặc biệt v.v.

2. Grammar- Ngữ pháp

Ngữ pháp rất quan trọng khi học và thi tiếng Anh. Từ vựng có rồi mà ngữ pháp không biết thì bạn cũng chẳng nói, viết thành câu. Không như từ vựng, ngữ pháp có hạn. Bạn chỉ cần tập trung cố gắng học các ngữ pháp cơ bản rồi sau đó bạn sẽ cảm thấy rất dễ dàng. - Nắm chắc ngữ pháp từng bài học bằng cách làm bài tập, làm càng nhiều bài tập thì khả năng ngữ pháp của bạn càng tốt - Tìm mua sách ngữ pháp có chia ra các chủ đề và bài tập đi kèm, giải thích rõ ràng. - Không ngại hỏi thầy cô bạn bè khi gặp cấu trúc ngữ pháp khó

3. Listen- Nghe
- Để học nghe hiệu quả thì bạn phải nghe thường xuyên, nghe nhiều thể loại như các bài học nghe, bản tin bằng tiếng Anh của BBC, VOA, CNN... - Xem phim bằng tiếng Anh cũng giúp bạn cải thiện khả năng nghe vì nó thực tế với hoàn cảnh hơn là nghe trong bài học. Tuy nhiên khi xem phim thì nghe khó hơn do các nhân vật phải diễn tả cả cảm xúc nên lúc trầm lúc bổng. - Luyện tập các bài kiểm tra nghe sẽ đánh giá lại thực chất khả năng nghe của bạn. Sau đó trả lời các câu hỏi. Bật và nghe lại nhiều lần đến khi hiểu bàn học thì thôi. - Khi nghe có nhiều từ mới không hiểu thì nhiều khi bạn phải đoán ý dựa vào những từ đã nghe hiểu được. Sau đó xem lại nội dung bài nghe và ghi các từ mới đó và học thuộc.

4. Said- Nói
Rất nhiều người nói rằng nói tiếng Anh thật khó. Bạn thử hình dung xem, bạn tập nói tiếng Việt từ khi sinh ra. Có nhiều từ nhiều câu tiếng Việt bạn nói đến cả nghìn lần thì sao bạn nói chẳng dễ. Tiếng Anh mới học mới nói tất nhiên là khó. Do đó - Bạn không phải ngại khi tập nói tiếng Anh, vì bạn đang học. Bạn chỉ thật sự xấu hổ khi bạn cần đến nó nhất mà không nói được do bạn không chịu luyện tập. Bạn hãy cố gắng nói càng nhiều càng tốt. Mỗi lần nói là 1 lần bớt sai. Bạn sợ sai không nói thì bạn sẽ không bao giờ nói được. - Tham gia các câu lạc bộ nói tiếng Anh. Có cơ hội nói chuyện với người nước ngoài hoặc người nói tiếng Anh thì phải tận dụng ngay để luyện tập cũng như học thêm về cách nói của họ.

5. Read- Đọc

- Bạn hãy đọc mọi thứ có thể đọc và cố gắng hiểu nội dung là gì. - Bạn bắt đầu bằng đọc các đoạn văn từ ngắn cho đến dài từ đơn giản đến phức tạp. Cố gắng trả lời các câu hỏi về đoạn văn nếu có - Ghi lại các từ không biết và tra nghĩa - Đọc lại toàn bộ tới khi hiểu đoạn văn nói gì thì thôi. - Đọc nhiều chủ đề khác nhau để tăng vốn từ cũng như kỹ năng đọc. Ngoài ra đọc nhiều chủ đề sẽ giúp bạn làm quen với nhiều cách hành văn khác nhau.

6. Post- Viết
Viết là tống hợp của các kỹ năng như từ vựng, ngữ pháp và cách hành văn. - Viết từng câu từng đoạn ngắn một - Viết xong rồi đọc lại rồi sửa đến khi nào bạn thấy thật sự hoàn hảo thì thôi - Gửi cho giáo viên chấm và sửa bài của bạn sau đó bạn sẽ nhận ra lỗi của mình và tránh cho lần sau. - Thường xuyên cập nhật từ vựng và ôn lại ngữ pháp sẽ giúp bạn không quên khi cần dùng đến một cấu trúc nào đó.